Chỉ trong hơn một thập kỷ, số ca mắc ung thư mới ở nước ta tăng nhanh, từ khoảng 92.000 ca năm 2010 lên hơn 180.000 ca/năm. Phần lớn bệnh nhân được phát hiện ở giai đoạn muộn khiến hiệu quả điều trị giảm sút, chi phí y tế tăng cao.
Số ca mắc tăng gấp đôi
Theo Tổ chức Ghi nhận ung thư toàn cầu (Globocan), đến năm 2045, số ca ung thư mới tại Việt Nam có thể tăng thêm khoảng 45%. Hiện nay, ung thư là một trong những gánh nặng y tế lớn nhất với hơn 120.000 ca tử vong mỗi năm, đứng thứ 2 trong các nguyên nhân gây tử vong sớm, chỉ sau bệnh tim mạch.
Thực tế tại các bệnh viện cho thấy áp lực ngày càng lớn. Năm 2025, số lượt bệnh nhân mắc ung thư đến khám tăng hơn 20% so với năm trước. Đáng lo ngại, xu hướng trẻ hóa ngày càng rõ, khi ung thư không còn là bệnh của người cao tuổi mà xuất hiện nhiều hơn ở nhóm trung niên và người trẻ.
Theo các chuyên gia, ung thư vú là loại phổ biến nhất ở nữ giới, song tỉ lệ phát hiện sớm vẫn còn thấp. Ở cả hai giới, ung thư gan, phổi và dạ dày tiếp tục nằm trong nhóm có tỉ lệ mắc và tử vong cao. Đáng chú ý, ung thư phổi thường được chẩn đoán muộn, liên quan đến hút thuốc lá và các yếu tố môi trường. Bên cạnh đó, các ung thư đại trực tràng, cổ tử cung, tuyến tiền liệt có xu hướng gia tăng, gắn với nhịp sống nhanh như ăn uống thiếu lành mạnh, ít vận động và béo phì.
PGS-TS Phạm Cẩm Phương, Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), cho biết ung thư đang gia tăng và trẻ hóa rõ rệt, trong đó ung thư phổi không nằm ngoài xu thế này. Tại Việt Nam, ung thư phổi đứng thứ 2 về số ca mắc mới với gần 25.000 ca/năm và hơn 22.500 ca tử vong. “Trước đây, ung thư phổi chủ yếu gặp ở nam giới trên 50 tuổi nhưng hiện nay chúng tôi tiếp nhận không ít bệnh nhân dưới 40 tuổi, trong đó có cả nữ giới. Đa số bệnh nhân đến viện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, làm hạn chế khả năng điều trị triệt căn và ảnh hưởng nặng nề đến tiên lượng” – PGS Phương cảnh báo.
Theo các chuyên gia, sự gia tăng số ca mắc ung thư tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân, như dân số già nhanh, lối sống thiếu lành mạnh, ô nhiễm môi trường và phơi nhiễm hóa chất trong lao động. Tuy nhiên, nguyên nhân then chốt vẫn là phát hiện muộn, khi tỉ lệ tầm soát các ung thư có thể phát hiện sớm như vú, cổ tử cung, đại trực tràng hay gan vẫn dưới mức khuyến cáo.

Các bác sĩ phẫu thuật, điều trị bệnh nhân ung thư. Ảnh: NGỌC DUNG
Góp thêm hy vọng
Theo GS-TS Lê Văn Quảng – Giám đốc Bệnh viện K, Viện trưởng Viện Ung thư quốc gia, ung thư hiện nay không thể điều trị hiệu quả bằng một phương pháp đơn lẻ mà cần phối hợp đa mô thức, gồm phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, điều trị đích và miễn dịch. Cùng với thuốc, việc ứng dụng các hệ thống máy xạ trị gia tốc hiện đại giúp nâng cao độ chính xác, giảm tác dụng phụ so với các thế hệ trước, góp phần cải thiện hiệu quả điều trị.
Những năm gần đây, lĩnh vực điều trị ung thư có nhiều bước tiến, trong đó thuốc điều trị đóng vai trò then chốt. Trước đây, hóa chất thế hệ cũ thường gây nhiều tác dụng phụ do ảnh hưởng cả tế bào lành, khiến người bệnh mệt mỏi, suy kiệt. Hiện nay, các thuốc điều trị thế hệ mới, đặc biệt là thuốc điều trị đích, đã cải thiện rõ rệt hiệu quả và độ an toàn. Thuốc đích thế hệ mới tác động trực tiếp vào các đột biến gien của tế bào ung thư, giúp giảm tác dụng phụ, rút ngắn thời gian điều trị và hạn chế việc truyền kéo dài như hóa chất.
Một số thống kê cho thấy thuốc đích có thể giúp kéo dài thời gian sống thêm cho người bệnh lên tới hơn 36 tháng. Bên cạnh đó, liệu pháp miễn dịch ngày càng được ứng dụng rộng rãi. Nếu trước đây phần lớn thuốc miễn dịch mang tính độc quyền với chi phí rất cao thì nay nhiều sinh phẩm tương tự đã xuất hiện, giúp giảm giá thành song vẫn bảo đảm hiệu quả điều trị.
GS Quảng cho biết một trong những thuốc mới là Pembroria do Nga sản xuất có hiệu quả điều trị tương đương các thuốc cùng nhóm đang sử dụng phổ biến nhưng giá thành thấp hơn. Thuốc đã được nhập về Việt Nam và dự kiến sớm đưa vào phác đồ điều trị tại các cơ sở chuyên khoa sau khi hoàn tất các thủ tục theo quy định.
Trong bối cảnh ngày càng nhiều thuốc và phác đồ mới, nguy cơ tương tác thuốc và tác dụng không mong muốn cũng gia tăng, đặt ra yêu cầu cao hơn về sử dụng thuốc cá thể hóa, an toàn và hiệu quả. Vì vậy, dược lâm sàng giữ vai trò then chốt trong việc tư vấn lựa chọn phác đồ, theo dõi hiệu quả, quản lý tác dụng phụ và phối hợp chặt chẽ với các chuyên khoa, góp phần nâng cao chất lượng điều trị ung thư.
Chờ đưa vào danh mục
TS-BS Diệp Bảo Tuấn, Giám đốc Bệnh viện Ung Bướu TP HCM, cho biết điều trị ung thư hiện nay đòi hỏi sử dụng các loại thuốc đặc trị đã được nghiên cứu bài bản, đánh giá nghiêm ngặt về hiệu quả và độ an toàn, đồng thời phải được Bộ Y tế cấp phép lưu hành. Hiện bệnh viện gần như có đầy đủ các loại thuốc điều trị ung thư đang được sử dụng phổ biến trên thế giới. Việc lựa chọn thuốc trong điều trị luôn tuân thủ đúng phác đồ, tiêu chuẩn chuyên môn và các quy định về quản lý dược.
Đề cập đến thuốc điều trị ung thư Pembroria của Nga, TS-BS Diệp Bảo Tuấn cho rằng thuốc này cũng như nhiều thuốc điều trị ung thư khác đều đã trải qua quá trình nghiên cứu nghiêm ngặt và được Bộ Y tế cấp phép lưu hành. “Đối với bệnh viện, khi một loại thuốc đã được Bộ Y tế cho phép, chúng tôi sẽ thực hiện đấu thầu. Nếu thuốc trúng thầu, bệnh viện sẽ đưa vào sử dụng trong điều trị người bệnh. Thực tế, Nga không chỉ có một loại thuốc điều trị ung thư. Trước đây, nhiều thuốc của Nga đã được sử dụng tại Việt Nam và cho hiệu quả điều trị tương đương các thuốc cùng nhóm đang lưu hành trên thị trường” – BS Tuấn nói thêm.
Theo TS-BS Lê Tuấn Anh, Giám đốc Trung tâm Ung Bướu – Bệnh viện Chợ Rẫy (TP HCM), thuốc Pembroria của Nga được xem là thuốc tương tự sinh học (biosimilar) của một thuốc gốc đã được sử dụng tại Bệnh viện Chợ Rẫy hơn 5 năm qua. Do đó, về cơ chế tác dụng và hiệu quả điều trị, thuốc này được đánh giá là tương đương với thuốc gốc.
Thuốc thuộc nhóm tương đương sinh học, có cấu trúc và công thức tương tự thuốc gốc, vì vậy có thể được áp dụng trong thực hành lâm sàng dựa trên kinh nghiệm sử dụng thuốc gốc trước đó.
Hiện Bệnh viện Chợ Rẫy gần như có đầy đủ các thuốc điều trị ung thư đã được phép lưu hành tại Việt Nam, bao gồm thuốc hóa trị truyền thống, thuốc điều trị nhắm trúng đích, thuốc miễn dịch và các thuốc sinh học.
Tất cả thuốc điều trị ung thư đang lưu hành trên thị trường Việt Nam đều được xem xét đưa vào danh mục thanh toán của BHYT. Việc này được Bộ Y tế phối hợp với cơ quan BHXH thực hiện định kỳ. Trong tương lai, khi thuốc này được đưa vào danh mục BHYT, người bệnh sẽ được hưởng quyền lợi chi trả theo quy định.
“Tuy nhiên, do là thuốc mới, việc sử dụng hiện nay vẫn tuân theo các chỉ định đã được Bộ Y tế phê duyệt. Về hiệu quả thực tế của thuốc, cần thêm thời gian theo dõi thông qua dữ liệu điều trị trong thực hành lâm sàng.
Khi có đủ dữ liệu, các cơ sở chuyên môn mới có thể đánh giá đầy đủ và chính xác hơn hiệu quả của thuốc trong điều trị thực tế” – BS Tuấn Anh nhấn mạnh.
Đã được thử nghiệm và phê duyệt
Theo hãng tin TASS, thuốc điều trị ung thư pembrolizumab với tên thương mại Pembroria do hãng dược Biocad của Nga sản xuất và đã được Bộ Y tế Nga phê duyệt vào cuối năm 2022. Pembroria là một loại thuốc sinh học tương tự thuốc pembrolizumab với tên thương mại Keytruda của hãng dược Mỹ Merck & Co (MSD) đã xuất hiện trên thị trường trước đó. Toàn bộ chu trình sản xuất Pembroria, bao gồm cả quá trình tổng hợp dược chất, đều được thực hiện tại Nga.
Pembrolizumab là thuốc ức chế thụ thể PD-1, giúp cơ thể nhận biết tế bào khối u tốt hơn và chống lại chúng bằng chính hệ miễn dịch. Thuốc được sử dụng để điều trị nhiều loại ung thư, bao gồm ung thư hắc tố (một loại ung thư da), ung thư phổi, ung thư thận, ung thư nội mạc tử cung, ung thư cổ tử cung, ung thư đầu – cổ, ung thư vú bộ 3 âm tính…
Trước khi được phê duyệt tại Nga, một loạt thử nghiệm lâm sàng đã được tiến hành để chứng minh tác dụng của thuốc tương đương với thuốc gốc Keytruda cũng như chứng minh độ an toàn của liệu pháp này.
Tùy vào dạng ung thư, Pembroria có thể được chỉ định như biện pháp đơn trị hoặc kết hợp với các biện pháp khác như hóa trị. Thuốc đã đem đến hy vọng cho nhiều trường hợp ung thư kháng trị. Ví dụ Pembroria được chỉ định là liệu pháp đơn trị cho một số trường hợp ung thư hắc tố, ung thư đầu – cổ, ung thư biểu mô đường tiết niệu đã di căn mà không thể phẫu thuật hoặc hóa trị.
Đối với ung thư thực quản hay ung thư cổ tử cung, thuốc này được kết hợp với hóa trị trong nhiều trường hợp bệnh đã di căn và không đáp ứng các biện pháp điều trị trước đó.
A.Thư
