ThS.BS Nguyễn Duy Anh, Phó Giám đốc Trung tâm Ung bướu, Xạ trị và Y học hạt nhân, Bệnh viện Phương Đông, cho biết u xương hàm là bệnh lý không phổ biến nhưng tiềm ẩn nhiều biến chứng nặng nề nếu phát hiện muộn.
Vùng “đắc địa” nhưng đầy rủi ro
Theo bác sĩ Duy Anh, u xương hàm là thuật ngữ rộng, bao gồm cả khối u lành tính và ác tính (ung thư xương hàm). Tuy nhiên, dù là lành hay ác, vị trí xuất hiện của khối u mới là yếu tố khiến bệnh trở nên nguy hiểm.
“Vùng hàm mặt là khu vực tập trung nhiều cấu trúc quan trọng như mạch máu lớn, dây thần kinh trung ương, đường thở và đường ăn. Vì vậy, bất kỳ tổn thương nào tại đây cũng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng sống”, bác sĩ Duy Anh phân tích.

Ca sĩ Kasim Hoàng Vũ qua đời ở tuổi 46.
Sự nguy hiểm của u xương hàm nằm ở ba điểm chính.
Thứ nhất, tính xâm lấn mạnh. Các khối u vùng này thường phát triển nhanh, xâm lấn mô mềm xung quanh, gây biến dạng khuôn mặt nghiêm trọng và phá hủy cấu trúc xương.
Thứ hai, ảnh hưởng chức năng sống. Khi khối u phát triển lớn, người bệnh có thể gặp khó khăn trong nhai, nuốt, nói chuyện, thậm chí cản trở đường hô hấp. Ở giai đoạn muộn, tình trạng suy kiệt diễn ra nhanh chóng do ăn uống kém và biến chứng toàn thân.
Thứ ba, điều trị phức tạp và nguy cơ tái phát cao. Phẫu thuật cắt bỏ u xương hàm thường đòi hỏi kỹ thuật cao để vừa đảm bảo lấy sạch tổn thương, vừa tái tạo cấu trúc khuôn mặt. Với các trường hợp ác tính, nếu không phát hiện sớm, nguy cơ tái phát và di căn xa (đặc biệt đến phổi, gan) rất lớn.
Dấu hiệu cảnh báo không nên bỏ qua
U xương hàm giai đoạn đầu thường diễn tiến âm thầm. Tuy nhiên, người dân cần đặc biệt lưu ý nếu xuất hiện các biểu hiện kéo dài trên hai tuần.
Về răng miệng, răng tự nhiên lung lay không rõ nguyên nhân, đau răng nhưng điều trị nha khoa thông thường không khỏi có thể là dấu hiệu bất thường.
Thay đổi hình dạng khuôn mặt cũng là cảnh báo quan trọng. Người bệnh có thể thấy sưng phồng vùng xương hàm hoặc mặt, sờ vào thấy khối cứng, đôi khi không đau hoặc chỉ đau nhẹ.
Một số trường hợp xuất hiện cảm giác tê môi, tê cằm, châm chích do khối u chèn ép dây thần kinh. Ngoài ra, tình trạng khó há miệng, lệch khớp cắn khi nhai, đau khớp thái dương – hàm kéo dài cũng cần được thăm khám chuyên khoa.
“Bất kỳ tổn thương hay vết loét nào trong miệng không lành sau 2-3 tuần đều cần được kiểm tra sớm tại cơ sở chuyên khoa ung bướu để loại trừ nguy cơ ác tính”, bác sĩ Duy Anh khuyến cáo.
Ung thư xương hàm: Hiếm gặp nhưng tiên lượng phụ thuộc giai đoạn
Theo thống kê, ung thư xương nguyên phát vùng đầu mặt cổ chỉ chiếm khoảng 1% tổng số các loại ung thư khu vực này. Trong nhóm ung thư xương toàn cơ thể, xương hàm chiếm khoảng 6-10%.
Bác sĩ Duy Anh cho hay, bệnh gặp ở xương hàm dưới nhiều hơn hàm trên, với tỷ lệ khoảng 1,5–2:1. Ung thư xương hàm dưới thường có tiên lượng nhỉnh hơn do dễ phát hiện khối sưng và thuận lợi hơn trong phẫu thuật triệt để. Ngược lại, tổn thương ở hàm trên có thể nhanh chóng xâm lấn vào xoang hàm hoặc nền sọ.
Khác với ung thư xương ở các chi thường gặp ở thanh thiếu niên, ung thư xương hàm phổ biến hơn trong độ tuổi 30–50. Tuy nhiên, những năm gần đây ghi nhận xu hướng trẻ hóa bệnh nhân. Nam giới có tỷ lệ mắc cao hơn nữ khoảng 1,2–1,5 lần, phần lớn liên quan đến thói quen hút thuốc và sử dụng rượu bia kéo dài.
Theo bác sĩ Duy Anh, nếu phát hiện ở giai đoạn sớm và điều trị kết hợp (phẫu thuật triệt để kết hợp hóa trị, xạ trị khi cần), tỷ lệ sống sau 5 năm có thể đạt 60–70%.
Tuy nhiên, khi khối u đã di căn xa – thường là di căn phổi – hoặc xâm lấn sâu vào nền sọ, tỷ lệ sống sau 5 năm giảm xuống dưới 20%.
“Ung thư xương hàm không phải là bệnh phổ biến, nhưng một khi đã xuất hiện thì diễn tiến nhanh và ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả chức năng sống lẫn thẩm mỹ. Điều quan trọng nhất vẫn là không chủ quan với các dấu hiệu bất thường ở răng miệng và khám định kỳ 6 tháng/lần để phát hiện sớm”, bác sĩ Duy Anh nhấn mạnh.
